DỊCH VỤ CÔNG


TÌNH HÌNH
XỬ LÝ


HỎI ĐÁP

TIN TỨC
Điểm báo ngày 17/10

Doanh nghiệp Quảng Ninh: Chủ động kiểm soát yếu tố nguy hiểm trong sản xuất (Công Thương 17/10)

Đổi mới công nghệ để đảm bảo an toàn lao động

Đây là cách làm của nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, nhằm hạn chế tối đa nguy cơ mất an toàn lao động trong sản xuất.

Khai thác khoáng sản, nhất là khai thác than có đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, môi trường khai thác than luôn được xếp vào loại nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và bệnh nghề nghiệp ở mức cao. Để kiểm soát nguy cơ mất an toàn lao động, các doanh nghiệp ngành than nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng đã chủ động nhiều giải pháp.

Tại Công ty CP Than Hà Lầm – Vinacomin, đơn vị sản xuất chủ yếu ở mức -150 đến -300m. Với điều kiện khai thác mỏ hầm lò xuống sâu như vậy kéo theo địa chất phức tạp hơn, nguy cơ bục nước, khí mỏ tăng. Vì vậy, tất cả thiết bị, máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đều được công ty kiểm định và niêm yết nội quy, quy trình vận hành. Các phòng chuyên môn thường xuyên kiểm tra hiện trường sản xuất ở cả 3 ca để chấn chỉnh kịp thời nguy cơ mất an toàn và các biểu hiện vi phạm về an toàn lao động.

Cũng như Than Hà Lầm, nhiều đơn vị khai thác than trên địa bàn tỉnh thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác bảo đảm an toàn cho thợ lò. Công nhân khai thác hầm lò đã được đào tạo bài bản và thường xuyên huấn luyện, đào tạo lại về kỹ thuật, kỹ năng lao động và an toàn, để thợ lò có kiến thức trong việc thực hiện các quy trình, quy phạm kỹ thuật trong quá trình sản xuất.

Theo đó, các công ty, đơn vị đã phối hợp với cơ quan tư vấn thiết kế, chuyên gia chuyên ngành rà soát công nghệ đang áp dụng trong hầm lò, đưa công nghệ phù hợp điều kiện địa chất mỏ, phù hợp khả năng quản lý kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức sản xuất, giám sát được những dự báo sự cố, tiềm ẩn dễ xảy ra tai nạn. Bên cạnh đó, việc đưa công nghệ thông tin liên lạc vào trong hầm lò đã tạo cho công tác chỉ đạo, điều hành chính xác trong kỹ thuật đào lò, giảm chi phí sản xuất, đạt năng suất cao, phát hiện kịp thời nguy cơ, tiềm ẩn mất an toàn.

Cùng với đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng cơ khí hóa vào khai thác, các đơn vị còn đầu tư thiết bị cảnh báo an toàn, tạo điều kiện và cải thiện làm việc cho công nhân như: Hệ thống thông gió, trạm đo khí, cấp nước cứu hỏa, phòng, chống cháy nổ; hệ thống cấp khí nén trong lò, chiếu sáng, thông tin liên lạc, thiết bị thăm dò trước gương than; hệ thống cảnh báo khí mê-tan đặt tại các gương lò khai thác than 24/24 giờ; lắp đặt các trạm quạt gió chính có hệ thống đảo chiều; rà soát lại các thiết bị thăm dò chống bục khí, bục nước...

Không chỉ khai thác than – khoáng sản mà bất cứ ngành nghề nào nếu người lao động, chủ sử dụng lao động lơ là, không chú trọng khâu an toàn đều dễ dẫn đến tai nạn lao động. Vì vậy, thời gian qua, các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã giám sát chặt chẽ vấn đề an toàn trong xây dựng của các ngành nghề.

Theo số liệu của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Quảng Ninh, trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 18.000 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất với trên 400.000 lao động đang làm việc. Các doanh nghiệp phần lớn đã có bộ phận ATVSLĐ (bao gồm cả hệ thống giám sát an toàn trên công trình), bộ phận y tế, an toàn, vệ sinh viên; lập kế hoạch ATVSLĐ, tiến hành đánh giá rủi ro tại nơi làm việc, lập kế hoạch ứng cứu khẩn cấp, tổ chức lực lượng ứng cứu, tự kiểm tra, thống kê, báo cáo về ATVSLĐ.

Thời gian tới, để kiểm soát nguy cơ mất an toàn lao động, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Quảng Ninh tiếp tục phối hợp cùng các cấp, ngành đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền sâu rộng về những biện pháp phòng ngừa, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc; triển khai Luật ATVSLĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đến doanh nghiệp và người lao động; tăng cường công tác huấn luyện ATVSLĐ cho chủ doanh nghiệp và người lao động, đặc biệt những người làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ tại nơi làm việc. 

TKV: Đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa trong đào lò (Tạp Chí TKV 16/10)

Để đảm bảo sản lượng than khai thác, trung bình mỗi năm các đơn vị sản xuất than hầm lò thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) duy trì đào từ 230.000-250.000m lò. Chủ trương phát triển của TKV giai đoạn 2020-2025 sẽ đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa đào lò, nhằm tăng tốc độ đào lò cho diện sản xuất, tiết giảm lao động thủ công và nâng cao năng suất lao động.

Theo thống kê của Viện Khoa học công nghệ mỏ (TKV), giai đoạn 2000-2019, công nghệ đào lò tại các mỏ than hầm lò thuộc TKV đã thi công được tổng số hơn 4,8 triệu mét lò, trong đó lò đá chiếm 25,3%, lò than chiếm 74,7%. Phần lớn các đường lò được chống bằng vì thép. Từ năm 2004, Tập đoàn bắt đầu đưa vào áp dụng vì neo và ngày càng được sử dụng rộng rãi tại các đơn vị. Về công nghệ tách phá gương, hầu hết được thực hiện bằng khoan nổ mìn, khối lượng các mét lò than được thi công bằng máy combai chiếm tỷ lệ nhỏ.

Các công nghệ đào lò của TKV nhìn chung còn những hạn chế nhất định, nhiều công đoạn phải thực hiện thủ công, tốc độ đào và năng suất đạt thấp. Để khắc phục tình trạng này, TKV đang khuyến khích các đơn vị đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa trong đào lò.

Công ty Than Nam Mẫu - TKV là một trong những đơn vị đi đầu về áp dụng đào lò bằng các thiết bị cơ giới hóa của Tập đoàn. Cuối tháng 5/2020, Công ty đã đưa máy khoan xúc đa năng vào vận hành thử nghiệm tại Phân xưởng Đào lò 1 ở mức -50. Đây là công nghệ khai thác tiên tiến, hiện đại nhất trong toàn Tập đoàn được Công ty ứng dụng đầu tiên.

Theo đánh giá của Công ty Than Nam Mẫu, sau hơn 4 tháng áp dụng công nghệ máy khoan bốc xúc đa năng, bước đầu cho thấy hiệu quả toàn diện, vừa tăng năng suất, đẩy nhanh tiến độ đào lò, vừa giảm nhân lực trong sản xuất. Trong điều kiện tiết diện 15,6m2, tốc độ đào lò của công nghệ mới đạt 60m/tháng; năng suất lao động 0,08m/công/ca; chi phí sản xuất khoảng 55,6 triệu đồng/m lò. So với công nghệ truyền thống (thiết bị khoan bằng máy khí nén cầm tay) tốc độ chỉ đạt 45m/tháng, năng suất lao động 0,05m/công/ca, nhưng chi phí sản xuất lên tới hơn 67 triệu đồng/m lò.

Việc áp dụng thành công công nghệ đào lò bằng máy khoan bốc xúc đa năng là bước đột phá mới trong khai thác đào lò của Công ty Than Nam Mẫu nói riêng và các đơn vị hầm lò trong TKV nói chung. Qua đó, có thể nhân rộng áp dụng ra nhiều đơn vị khai thác than hầm lò có diện sản xuất phù hợp.

Thực tế, tùy vào từng điều kiện sản xuất, các đơn vị khai thác than hầm lò của TKV đang nghiên cứu áp dụng những công nghệ cơ giới hóa đào lò phù hợp. Ngoài Công ty Than Nam Mẫu, hiện nay Công ty Xây lắp mỏ đang áp dụng công nghệ cơ giới hóa đào lò bằng cách tiến gương khoan nổ mìn, khoan lỗ mìn bằng xe khoan loại 01 cần CMJ-14, xúc đất đá bằng máy xúc lật hông ZCY-60 đổ lên goòng 3 tấn.

Còn tại Công ty CP Than Vàng Danh đang áp dụng cơ giới hóa đồng bộ tiến gương bằng máy đào loại EBH-45, than gương được máy vận chuyển qua cầu chuyển tải đổ lên băng tải. Cả 2 công nghệ này đều tăng từ 33-47% về tốc độ đào lò so với phương pháp thủ công trước đây.

Trong định hướng phát triển công nghệ cơ giới hóa đào lò cho các mỏ hầm lò của TKV giai đoạn 2020-2025, sẽ đầu tư 25 dây chuyền. Trong đó, với đào lò than sẽ áp dụng máy khoan combai loại nhẹ và siêu nhẹ có điều kiện các đường lò địa chất phù hợp tiết diện nhỏ hơn 9,4m2; cho phép nâng tốc độ đào lò lên 130-170m/tháng. Riêng đối với công nghệ cơ giới hóa đào lò đá sẽ sử dụng xe khoan tự hành, các máy khoan xúc đa năng (loại một cần và hai cần).

Những công nghệ cơ giới hóa đào lò trong khai thác than hầm lò khi được áp dụng rộng rãi sẽ giúp TKV đẩy mạnh khai thác than. Hiện sản lượng khai thác than bằng công nghệ lò chợ cơ giới hóa đồng bộ của TKV đã đạt và duy trì 11-13% tổng sản lượng than hầm lò. Theo kế hoạch, năm 2020 sản lượng khai thác than bằng cơ giới hóa toàn Tập đoàn là 3,45 triệu tấn, chiếm 14,17% sản lượng than hầm lò. 

Gốm Quảng Ninh: Áp dụng 5s nhằm cải tiến năng suất chất lượng (VietQ 16/10)

 Nhờ áp dụng công cụ 5s và đẩy mạnh áp dụng công cụ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng, nhiều doanh nghiệp sản xuất gốm sứ tỉnh Quảng Ninh đã có bước chuyển mình nhanh chóng.

Cụ thể, tại Công ty Cổ phần (CP) Gốm Đất Việt, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 được áp dụng với mục tiêu gắn sản xuất với giữ gìn môi trường, hướng đến xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp hơn. Bên cạnh đó, công ty còn áp dụng đồng bộ công cụ 5S từ phân xưởng, tổ sản xuất đến tất cả các phòng, ban, người lao động. Hệ thống quản lý môi trường tiêu chuẩn ISO 14001:2015 cũng được áp dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh gạch, ngói của công ty.

Việc áp dụng các công cụ cải tiến năng suất giúp Công ty CP Gốm Đất Việt tạo môi trường làm việc gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, xanh, sạch; nâng cao ý thức của cán bộ, nhân viên đảm bảo an toàn trong sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, tăng năng suất lao động và xây dựng niềm tin với khách hàng... Với các giải pháp trên, tháng 6/2020, Công ty CP Gốm Đất Việt đã vinh dự đón nhận bằng xác lập 6 kỷ lục Việt Nam. Công ty cũng 2 lần đón nhận giải thưởng chất lượng quốc gia, khẳng định những bước đi đúng đắn của công ty trong việc nâng cao hình ảnh, vị thế của doanh nghiệp thông qua cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm.

Trong đó, tại Công ty TNHH Gốm sứ mỹ nghệ Quang Vinh, năm 2017, sau khi hoàn thành dự án đầu tư dây chuyền, thiết bị tiên tiến trong sản xuất gốm sứ cao cấp, đã giảm 30% lượng khí gas nhờ thu hồi nhiệt thừa trong lò nung để sấy sản phẩm mộc, giảm sản phẩm lỗi hỏng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất lao động… Năm 2019, Gốm Quang Vinh đã quyết định tiếp tục đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại trong sản xuất gốm, công suất khoảng 700.000 sản phẩm/năm; tổng chi phí 613.480.000 đồng. "Mục tiêu dự án hướng đến nhằm tạo ra sản phẩm mới, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm giúp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp" - bà Hà Thị Vinh - Tổng giám đốc Công ty Gốm Quang Vinh - cho biết.

Dù các thiết bị, máy móc đang trong quá trình chạy thử nghiệm, nhưng theo tính toán của công ty, với công nghệ mới, hiện đại, sản phẩm sản xuất ra sẽ có giá thành hạ trên 30%. Đây là cơ hội để công ty hạ giá bán các sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh mở rộng thị trường, sản xuất. Theo đó, dự án đã đầu tư máy ép song động 12 tấn, máy khắc CNC một đầu đa năng, máy ép bán dẻo.

Cùng với các thiết bị, máy móc được đầu tư mới kết hợp kỹ thuật phối liệu xương men sứ mỏng do công ty nghiên cứu và công nghệ đổ rót áp lực cao bán tự động, giúp sản phẩm sản xuất ra bền đẹp, có độ mỏng, độ chính xác cao, đa dạng chủng loại, nâng cao sản lượng. Đồng thời, giảm tỷ lệ sản phẩm lỗi, hỏng giữ được kiểu dáng thiết kế, nâng cao tính thẩm mỹ và giá trị sản phẩm. Áp dụng máy CNC vẽ trang trí sản phẩm giúp mẫu mã sản phẩm đa dạng phong phú hơn, năng suất lao động tăng cao và hầu như không có sản phẩm hỏng ở công đoạn này.

nguyenthingochuyen

Các tin khác
Lượt truy cập:
Trực tuyến:
CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TỈNH QUẢNG NINH
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh
Hỗ trợ:
Điện thoại: 1900.558.826
Email: chinhquyendientu@quangninh.gov.vn